Chưa thấy có dấu hiệu mang bầu sau một vài tháng không sử dụng biện pháp tránh thai, nhiều cặp vợ chồng trẻ đã lo lắng nghĩ đến chuyện hiếm muộn.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia sức khỏe, bạn chỉ cần quan tâm đến các phương pháp hỗ trợ có con dưới đây sau một năm hai vợ chồng nỗ lực mà vẫn không thể có thai.

Dùng thuốc kích trứng

Nguyên lý của toa thuốc hỗ trợ sinh sản này là giúp ngăn cản việc tiết hormone sinh dục nữ (để kích thích thân nhiệt và sự rụng trứng), làm tăng khả năng thụ thai.

Bạn sẽ được khuyên uống thuốc vào giữa ngày thứ 2 và thứ 5 của chu kỳ kinh nguyệt. Nếu thuốc không có tác dụng, bạn có thể thử tiêm loại thuốc khác có chứa các hormone khác (như gonadotropins). Và để nâng cao khả năng có thai, vợ chồng bạn nên quan hệ tình dục thường xuyên (ít nhất là 2-3 lần 1 tuần).

Phương pháp điều trị này phù hợp cho những chị em gặp vấn đề về kinh nguyệt. Phương pháp này có hiệu quả từ 20-60% nhưng lại có thể gây ra các rủi ro như: đa thai hoặc mắc hội chứng buồng trứng đa nang.

Nếu sau khoảng 9 lần điều trị bằng phương pháp này mà bạn vẫn chưa có thai, bác sĩ sẽ khuyên bạn tiếp tục các biện pháp hỗ trợ thụ thai khác.

Thụ tinh nhân tạo (IUI)

Phương pháp điều trị hiếm muộn này được khá nhiều cặp đôi lựa chọn và có kết quả điều trị khá tốt. Ngày nay, phương pháp thụ tinh nhân tạo thường được thay thế bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm để đạt hiệu quả thụ thai cao hơn.

Với phương pháp này, tinh trùng sau khi được lấy ra từ cơ thể người chồng, được làm sạch, sau đó được bơm trực tiếp vào tử cung của người phụ nữ thông qua một ống thông. Nếu bạn chọn phương pháp này, bạn sẽ phải uống thuốc hỗ trợ khả năng sinh sản. Phương pháp này thích hợp cho những cặp vợ chồng mà người vợ có khả năng sinh sản bình thường nhưng người chồng lại có tinh trùng chất lượng thấp, di chuyển chậm hoặc trong trường hợp cổ tử cung có chất nhờn làm hủy tinh trùng.

Thụ tinh nhân tạo có hiệu quả không cao, chỉ từ 5-25%. Bên cạnh đó, nếu không may, bạn sẽ phải đối mặt với tác dụng và rủi ro như: chảy máu âm đạo, đau trong âm đạo, đa thai, nhiễm trùng...

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

Với phương pháp này, trứng được lấy qua sự chọc hút dưới hướng dẫn của siêu âm trước khi sự rụng trứng xảy ra. Phôi sẽ được đưa vào buồng tử cung 2 – 3 ngày sau khi sự thụ tinh diễn ra hoặc được trữ lạnh nếu có chất lượng tốt.

Sau một chu kỳ kinh nguyệt có khoảng 15% nữ giới thụ thai thành công. Sau 6 chu kỳ tỉ lệ thành công lên đến 80%. Tỉ lệ thành công của IVF phụ thuộc vào chất lượng của trứng và tinh trùng. Phương pháp này thường được chỉ định khi chất lượng tinh trùng đủ tốt và thất bại với phương pháp IUI.

Ngày nay, thụ tinh trong ống nghiệm đang dần thay thế phương pháp thụ tinh nhân tạo. Tuy vậy, phương pháp này có những rủi ro như phát triển đa thai, hội chứng buồng trứng đa nang, nhiễm trùng nếu dụng cụ không được khử trùng cẩn thận...

Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI)

Bác sĩ sẽ chọn lọc lấy một tinh trùng khoẻ mạnh, sau đó tiêm trực tiếp vào bào tương trứng qua kính hiển vi. Khi trứng thụ tinh phát triển thành phôi thai sẽ tiếp tục cấy vào tử cung người vợ bằng phương pháp IVF.

Với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bình thường, một số trường hợp tinh trùng không thể tự thụ tinh do bất thường về thụ tinh, dẫn đến không có phôi để chuyển vào buồng tử cung. Với kỹ thuật ICSI, có thể tránh gần như hoàn toàn các trường hợp trên.

Phương pháp này thường được chỉ định với các trường hợp: vô sinh nam (tinh trùng ít, yếu, dị dạng nhiều, không tinh trùng trong tinh dịch phải lấy tinh trùng bằng phẫu thuật); bất thường thụ tinh, vô sinh không rõ nguyên nhân và thất bại với thụ tinh ống nghiệm bình thường.

Sự thụ tinh diễn ra trong khoảng 70% trường hợp khi áp dụng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương trứng và khoảng 50% thai kỳ sẽ diễn ra sau khi đưa phôi vào buồng tử cung. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây một số biến chứng như hội chứng quá phát buồng trứng do dùng hormone kích thích trong quá trình làm thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), các triệu chứng khác như tăng huyết áp, phù, mệt mỏi…

Trưởng thành trứng trong ống nghiệm (IVM)

Khi thực hiện phương pháp này, người vợ sẽ được tiêm thuốc hỗ trợ buồng trứng trong 3 ngày, sau đó bác sĩ dùng thủ thuật chọc hút trứng non, nuôi trứng non trong phòng thí nghiệm. Trong thời gian đó, tinh trùng cũng được lấy từ cơ thể người chồng. Trứng và tinh trùng được cho thụ tinh (thường bằng kỹ thuật ICSI – Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng). Sau đó các bác sĩ sẽ kiểm tra chất lượng phôi, hỗ trợ phôi thoát màng nếu có chỉ định và chuyển phôi vào buồng tử cung.

Bài: Đào Vũ